Khi đang làm thủ tục ly hôn mà chung sống với người khác có bị xử phạt không?

Trong thực tiễn giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, không ít trường hợp vợ hoặc chồng đang trong quá trình Tòa án giải quyết ly hôn nhưng đã phát sinh quan hệ chung sống với người khác. Điều này đặt ra vấn đề pháp lý quan trọng: việc chung sống với người khác trong thời gian đang làm thủ tục ly hôn có bị coi là vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hay không? Bài viết dưới đây, Luật sư YBS sẽ phân tích vấn đề dưới góc độ pháp luật hiện hành, trên cơ sở các quy định cụ thể của Luật Hôn nhân và gia đình, các văn bản xử phạt và Bộ luật Hình sự.

Khi đang Làm Thủ Tục Ly Hôn Mà Chung Sống Với Người Khác Có Bị Xử Phạt Không?
Ảnh minh họa – Khi đang làm thủ tục ly hôn mà chung sống với người khác có bị xử phạt không?

1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt khi nào theo quy định pháp luật?

Thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân là căn cứ then chốt để xác định hành vi chung sống với người khác có vi phạm pháp luật hay không.

Theo khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.”

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.”

Như vậy, việc nộp đơn ly hôn hoặc Tòa án đang trong quá trình giải quyết  chưa làm chấm dứt quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý. Chỉ khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân mới chính thức kết thúc. Trước thời điểm này, các bên vẫn được xác định là vợ chồng hợp pháp.

Khi đang Làm Thủ Tục Ly Hôn Mà Chung Sống Với Người Khác Có Bị Xử Phạt Không?
Ảnh minh họa – Quan hệ hôn nhân chấm dứt khi nào theo quy định pháp luật

2. Thế nào là “chung sống như vợ chồng” theo quy định của pháp luật?

Khái niệm “chung sống như vợ chồng” là căn cứ quan trọng để xem xét hành vi có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng hay không.

Khi đang Làm Thủ Tục Ly Hôn Mà Chung Sống Với Người Khác Có Bị Xử Phạt Không?
Ảnh minh họa – Thế nào là “chung sống như vợ chồng” theo quy định pháp luật

Theo khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.”

Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể các dấu hiệu nhận biết, nhưng trên thực tế, cơ quan có thẩm quyền thường căn cứ vào các yếu tố như:

  • Nam, nữ cùng sinh hoạt chung, gắn bó ổn định, lâu dài;
  • Có con chung, tài sản chung;
  • Được gia đình, hàng xóm, xã hội thừa nhận hoặc coi như vợ chồng;
  • Có sự chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng xây dựng đời sống chung.

Trường hợp quan hệ chỉ mang tính nhất thời, không ổn định và không thể hiện ý chí coi nhau là vợ chồng thì có thể không bị xem là “chung sống như vợ chồng” theo nghĩa pháp lý.

3. Đang làm thủ tục ly hôn mà chung sống với người khác có vi phạm pháp luật không?

Căn cứ các quy định nêu trên, có thể khẳng định: người đang làm thủ tục ly hôn nhưng chưa có bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật vẫn được xem là người đang có vợ, có chồng.

Theo điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nhà nước nghiêm cấm: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.”

Khi đang Làm Thủ Tục Ly Hôn Mà Chung Sống Với Người Khác Có Bị Xử Phạt Không?
Ảnh minh họa – Đang làm thủ tục ly hôn mà chung sống với người khác có vi phạm pháp luật không?

Do đó, trong thời gian Tòa án đang giải quyết ly hôn, nếu một bên hoặc người thứ ba phát sinh hành vi chung sống như vợ chồng thì hành vi này được xác định là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Chung sống với người đang làm thủ tục ly hôn có thể bị xử lý như thế nào?

Tùy thuộc vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khi đang Làm Thủ Tục Ly Hôn Mà Chung Sống Với Người Khác Có Bị Xử Phạt Không?
Ảnh minh họa – Chung sống với người đang làm thủ tục ly hôn có thể bị xử lý như thế nào?

4.1. Xử phạt vi phạm hành chính

Theo điểm b khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 117/2024/NĐ-CP): “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.”

Mức xử phạt này cũng được áp dụng đối với người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ hoặc có chồng.

4.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự

Trong trường hợp hành vi chung sống như vợ chồng khi đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp gây hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cụ thể, theo khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự, người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ, có chồng, sẽ bị xử lý hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp:

(i) làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; hoặc

(ii) đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục vi phạm.

Hình phạt có thể là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Trường hợp hành vi vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, theo khoản 2 Điều 182 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, như:

– làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong các bên tự sát; hoặc

– đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái pháp luật nhưng vẫn cố tình duy trì quan hệ đó…

Ngoài ra, căn cứ theo mục 3 của Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS), cũng hướng dẫn rõ rằng:

“3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…

3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  1. a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v…

  1. b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

3.3. Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS.”

Như vậy, người vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

– Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng như: làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v…

– Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

– Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

5. Khuyến nghị từ Luật sư YBS

Thực tiễn cho thấy, quá trình giải quyết ly hôn là giai đoạn nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nếu các bên không nắm rõ quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình. Việc hiểu đúng và tuân thủ quy định pháp luật không chỉ giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân mà còn hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp, trách nhiệm pháp lý không đáng có.

Luật sư YBS khuyến nghị, trong thời gian Tòa án chưa ban hành bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, các bên vẫn cần ý thức rõ tư cách vợ chồng hợp pháp của mình, thận trọng trong các mối quan hệ tình cảm và sinh hoạt chung, tránh phát sinh hành vi có thể bị xem là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp có vướng mắc hoặc cần tư vấn cụ thể liên qua đến ly hôn, Quý khách hàng có thể chủ động liên hệ Luật sư YBS để được tư vấn kịp thời, chính xác và phù hợp với từng tình huống cụ thể, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.