Trong hoạt động kinh doanh, không ít trường hợp hợp đồng vẫn đang trong thời hạn thực hiện nhưng một bên đã có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết. Khi đó, nhiều doanh nghiệp băn khoăn liệu có bắt buộc phải chờ đến khi hợp đồng hết hạn mới được quyền khởi kiện hay không. Đây là thắc mắc phổ biến và có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, bởi việc chậm trễ trong việc bảo vệ quyền lợi có thể dẫn đến rủi ro pháp lý nghiêm trọng.

Bài viết dưới đây, Luật sư YBS phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành để làm rõ: bên vi phạm hợp đồng kinh doanh có thể bị khởi kiện ngay cả khi hợp đồng chưa hết thời hạn hay không.
1. Hiệu lực pháp lý của hợp đồng và nghĩa vụ thực hiện
Theo nguyên tắc chung của pháp luật dân sự, hợp đồng hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.”
Trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng nội dung đã cam kết. Nếu một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì hành vi vi phạm hợp đồng đã phát sinh, kéo theo quyền yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên còn lại.

Như vậy, việc hợp đồng còn hay đã hết thời hạn không phải là yếu tố quyết định quyền khởi kiện. Yếu tố cốt lõi là quyền và lợi ích hợp pháp của một bên đã bị xâm phạm hay chưa.
2. Có bắt buộc chờ đến khi hết thời hạn hợp đồng mới được khởi kiện không?
Pháp luật hiện hành không có bất kỳ quy định nào buộc các bên phải chờ đến khi hợp đồng hết hạn mới được quyền khởi kiện. Thay vào đó, pháp luật quy định về thời hiệu khởi kiện, tức là khoảng thời gian mà bên bị xâm phạm được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.
Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.”
Quy định này cho thấy mốc tính thời hiệu khởi kiện không phụ thuộc vào thời điểm hợp đồng chấm dứt, mà phụ thuộc vào thời điểm bên bị vi phạm biết hoặc phải biết về việc vi phạm đó.
Do đó, nếu trong thời gian hợp đồng đang còn hiệu lực mà một bên đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bên còn lại hoàn toàn có quyền khởi kiện ngay, không cần chờ đến ngày hợp đồng hết hạn.
3. Thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại
Đối với các hợp đồng phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại, thời hiệu khởi kiện được điều chỉnh bởi Luật Thương mại.
Điều 319 Luật Thương mại 2005 quy định:
“Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của Luật này.”
Theo quy định này, thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng thương mại là 02 năm, được tính từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, không phụ thuộc vào việc hợp đồng đã hết thời hạn hay chưa.
Vì vậy, trong thời gian hợp đồng đang được thực hiện, nếu một bên phát sinh hành vi vi phạm, bên bị vi phạm cần đặc biệt lưu ý thời hiệu khởi kiện để kịp thời bảo vệ quyền lợi của mình.
4. Hợp đồng đã hết thời hạn thì còn được khởi kiện hay không?
Việc hợp đồng đã hết thời hạn không đồng nghĩa với việc mất quyền khởi kiện, bên bị vi phạm hoàn toàn có quyền khởi kiện nếu vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: Hợp đồng mua bán được ký kết ngày 16/01/2023, hai bên thoả thuận hợp đồng có thời hạn 01 năm kể từ ngày ký và Công ty A sẽ thanh toán cho Công ty B vào ngày 30/11/2023. Tuy nhiên đến khi hết thời hạn hợp đồng, Công ty A vẫn chưa thanh toán cho Công ty B. Như vậy, thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty B bị xâm phạm là ngày 01/12/2023 (ngày quá hạn thanh toán), thời hiệu khởi kiện theo Điều 319 Luật Thương mại 2005 sẽ là 02 năm kể từ ngày 01/12/2023, tức đến hết ngày 30/11/2025. Theo quy định pháp luật, dù hợp đồng đã hết hạn nhưng vẫn trong thời hiệu khởi kiện này thì Công ty B hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng với Công ty A.

5. Vi phạm hợp đồng trước thời hạn và quyền hủy hợp đồng, khởi kiện
Trong thực tiễn, có nhiều trường hợp hành vi vi phạm xảy ra khi hợp đồng vẫn đang được thực hiện nhưng mức độ vi phạm đủ nghiêm trọng để bên còn lại không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.

Khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định:
“Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.”
Khoản 4 Điều 312 Luật Thương mại 2005 quy định:
“Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng;
b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.”
Trong các trường hợp này, bên bị vi phạm có quyền hủy bỏ hợp đồng và đồng thời khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết các hậu quả pháp lý phát sinh, bao gồm hoàn trả những gì đã thực hiện, bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nếu hợp đồng có thỏa thuận.
Từ các quy định pháp luật nêu trên, có thể khẳng định rằng bên vi phạm hợp đồng kinh doanh hoàn toàn có thể bị khởi kiện ngay cả khi hợp đồng chưa hết thời hạn, miễn là quyền và lợi ích hợp pháp của bên còn lại đã bị xâm phạm và việc khởi kiện được thực hiện trong thời hiệu luật định.
Việc xác định đúng thời điểm quyền và lợi ích bị xâm phạm, thời hiệu khởi kiện, cũng như lựa chọn phương án xử lý phù hợp như tiếp tục thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng hay khởi kiện là vấn đề mang tính chuyên môn pháp lý cao và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của doanh nghiệp.
Luật sư YBS cung cấp dịch vụ tư vấn và giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại từ giai đoạn đánh giá rủi ro, soạn thảo hồ sơ khởi kiện đến đại diện khách hàng tham gia tố tụng tại Tòa án, nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

